Tin Nông Nghiệp

  • Trang chủ | Tin tức | Tin Nông Nghiệp
  • TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI THÁNG 5/2017
    Thứ ba, 08:24Ngày 13/06/2017 .

    TÌNH HÌNH CHUNG

    Theo Bộ Nông nghiệp & PTNT, trong tháng 5/2017, tình hình chăn nuôi trong phạm vi cả nước có nhiều biến động. Chăn nuôi trâu bò phát triển ổn định nhờ việc hỗ trợ giống và tiêu thụ sữa từ các chương trình giảm nghèo và sự phát triển của các công ty sữa. Tiêu thụ thịt lợn vẫn còn gặp khó khăn ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người nuôi, đàn lợn của cả nước giảm khoảng 2% so với năm 2016.

    Chăn nuôi trâu, bò: Đàn trâu, bò cả nước trong tháng 5 không có nhiều biến động. Đàn bò phát triển ổn định nhờ các chương trình hỗ trợ bò giống cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo. Đàn bò sữa phát triển khá do có các dự án của nhiều công ty sữa đang được triển khai. Theo ước tính của TCTK, hiện tại tổng số trâu của cả nước giảm khoảng 0,5%, tổng số bò tăng khoảng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.

    Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn vẫn còn nhiều khó khăn, người chăn nuôi không tiêu thụ được sản phẩm dẫn đến tình trạng giảm đàn, bỏ đàn cùng với việc giá thịt lợn vẫn ở mức thấp, người chăn nuôi phải chịu lỗ. Ước tính số lượng lợn hiện tại của cả nước giảm khoảng 2% so với cùng kỳ năm 2016.

    Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm phát triển tương đối ổn định, dịch cúm gia cầm có phát sinh nhưng chỉ xảy ra nhỏ lẻ tại một số tỉnh. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước hiện tại tăng khoảng 2,8% so với cùng kỳ năm 2016.

    T5

    Dịch bệnh: Theo Cục Thú y, tính đến thời điểm 30/05/2017, tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:

     Dịch Cúm gia cầm (CGC)

     Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

     Hiện nay, cả nước không có dịch Cúm gia cầm.

    Dịch Lỡ mồm long móng gia súc (LMLM)

    Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

    Hiện nay, cả nước không có dịch LMLM.

    Dịch Tai xanh trên lợn

    Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

    Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.

    Nhận định tình hình dịch

    Cúm gia cầm: Nguy cơ dịch phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao. Một số chủng vi rút cúm gia cầm chưa có ở Việt Nam (A/H7N9, A/H5N2, A/H5N8) có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu. Các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống Cúm gia cầm; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời.

    Lở mồm long móng: Các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các địa phương có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch.

    Tai xanh trên lợn: Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ và khu vực có nguy cơ cao. Các địa phương cần tăng cường giám sát dịch bệnh trên đàn lợn, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch phát sinh và lây lan.

    Các địa phương căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút Cúm gia cầm, Lở mồm long móng, Tai xanh và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2016 (văn bản số 2151/TY-DT ngày 24/10/2016) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

    THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM CHĂN NUÔI

    Sau khi Bộ Nông nghiệp và PTNT phát động chương trình “giải cứu” thịt lợn giúp người chăn nuôi, tính đến 18/5 đã có trên 200.000 tấn lợn đến lứa xuất chuồng được “giải cứu”. Đặc biệt, giá thịt lợn đã tăng lên đáng kể từ 2.000 – 8.000 đ/kg tại nhiều địa phương, và có xu hướng tăng tiếp trong thời gian tới. Cụ thể là, giá thu mua lợn hơi tại Đồng Nai đã tăng 1.000 – 3.000 đ/kg so với hồi đầu tháng, hiện đạt 26.000 – 27.000 đ/kg; Vĩnh Long tăng 3.000 đ/kg, lên mức 25.000 đ/kg. Do nguồn cung hạn chế nên giá thu mua gà công nghiệp lông trắng tại khu vực Đông Nam Bộ đã tăng khoảng 3.000 đ/kg so với hồi đầu tháng, hiện đạt 26.000 16 – 26.500 đ/kg; ĐBSCL tăng khoảng 2.000 – 3.000 đ/kg, hiện đạt 26.000 – 27.000 đ/kg.

     

    Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

    Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

    THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU

    Thức ăn gia súc và nguyên liệu nhập khẩu: 

    Ước giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 5/2017 ước đạt 344 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này 5 tháng đầu năm 2017 lên 1,53 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng này trong 4 tháng đầu năm 2017 là Achentina (chiếm 44,7% thị phần), tiếp đến là Hoa Kỳ (13%), Ấn Độ (chiếm 5% thị phần) và Trung Quốc (4,2%). Thị trường có tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Italia (tăng gần 9 lần) tiếp đến là thị trường Ấn Độ (tăng hơn 2 lần). Thị trường có giá trị giảm mạnh nhất là thị trường Áo, so với cùng kỳ năm 2016 thị trường này đã giảm 8,2%.

    Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 5/2017 đạt 261 triệu USD, giảm 1,79% so với tháng trước đó và giảm 0,86% so với cùng tháng năm ngoái.

    Tính chung, trong 5 tháng đầu năm 2017 Việt Nam đã chi hơn 1,4 tỉ USD nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu, tăng 20,61% so với cùng kỳ năm trước đó.

    Trong 5 tháng đầu năm 2017, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam từ một số thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh, thứ nhất là Italia với hơn 39 triệu USD, tăng 894,05% so với cùng kỳ; đứng thứ hai là Canada với hơn 18 triệu USD, tăng 210,77% so với cùng kỳ; Chilê với gần 4 triệu USD, tăng 165,1% so với cùng kỳ, sau cùng là Anh với hơn 1 tỉ USD, tăng 123,58% so với cùng kỳ.

    Các thị trường chính cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam trong tháng 5/2017 là Achentina, Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc… Trong đó, Achentina là thị trường chủ yếu Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này với 105 triệu USD, giảm 11,88% so với tháng trước đó và giảm 10,84% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ nước này trong 5 tháng đầu năm 2017 lên hơn 636 triệu USD, chiếm 43,9% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng, tăng 16,29% so với cùng kỳ năm trước đó – đứng đầu về thị trường cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam. Kế đến là thị trường Brazil với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 5/2017 đạt hơn 29 triệu USD, tăng 891,46% so với tháng 4/2017 và tăng 1.394,36% so với cùng tháng năm trước đó. Tính chung, trong 5 tháng đầu năm 2017 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ thị trường này đạt hơn 41 triệu USD, tăng 8,56% so với cùng kỳ năm trước đó.

    Kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ Achentina tăng mạnh trong 5 tháng đầu năm 2017, do nguồn nguyên liệu từ thị trường này dồi dào – thị trường TĂCN và nguyên liệu tiềm năng của Việt Nam.

    Đứng thứ ba về kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 5/2017 là Ấn Độ với trị giá hơn 15 triệu USD, giảm 20,85% so với tháng trước đó nhưng tăng 126,33% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2017 lên hơn 74 triệu USD, tăng 115,64% so với cùng kỳ năm trước đó.

    Ngoài ba thị trường kể trên, Việt Nam nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ các thị trường khác nữa như: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Indonesia, Áo và Italia với kim ngạch đạt 161 triệu USD, 63 triệu USD, 52 triệu USD; 40 triệu USD; và 39 triệu USD.

     

    Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu tháng 5/2017 và 5 tháng đầu năm 2017

    ĐVT: nghìn USD

      KNNK 5T/ 2016 KNNK T5/2017 KNNK 5T/ 2017 +/- so với T4/2017 (%) +/- so với T5/2016 (%) +/- so với 5T/2016 (%)
    Tổng KN

    1.200.464

    261.667

    1.447.877

    -1,8

    -0,9

    20,6

    Achentina

    546.941

    105.879

    636.047

    -11,9

    -10,8

    16,3

    Ấn Độ

    34.722

    15.167

    74.877

    -20,9

    126,3

    115,6

    Anh

    480

    247

    1.074

    -20,1

    267,1

    123,6

    Áo

    42.910

    5.119

    40.160

    -28,3

    6,2

    -6,4

    Bỉ

    4.205

    1.044

    5.747

    98,9

    8,3

    36,7

    Brazil

    38.434

    29.547

    41.724

    891,5

    1394,4

    8,6

    UAE

    23.850

    5.065

    36.292

    5,7

    15,1

    52,2

    Canada

    5.915

    8.873

    18.384

    169,2

    618,6

    210,8

    Chilê

    1.499

    1.150

    3.975

     

    625,5

    165,1

    Đài Loan

    25.333

    10.483

    28.709

    172,5

    60,6

    13,3

    Đức

    2.205

    940

    3.331

    130,5

    88,4

    51,0

    Hà Lan

    10.414

    1.416

    10.382

    -5,7

    -27,3

    -0,3

    Hàn Quốc

    13.567

    3.704

    13.375

    110,2

    13,3

    27

    Hoa Kỳ

    126.923

    7.096

    161.150

    -74

    -72,7

    27

    Indonesia

    32.781

    13.475

    52.823

    10,1

    66,6

    61,1

    Italia

    3.925

    6.755

    39.021

    -37,6

    2.577,4

    894,1

    Malaysia

    52.217

    3.815

    14.092

    34,3

    -82,7

    -73,0

    Mêhicô

    588

    494

    1.515

    17,1

    688,8

    157,6

    Nhật Bản

    2.060

    244

    2.291

    11,2

    -31,5

    11,2

    Australia

    5.002

    897

    7.415

    -32,6

    33,5

    48,2

    Pháp

    8.640

    2.453

    11.713

    31

    9,1

    35,6

    Philippin

    5.298

    885

    8.297

    3

    -5,6

    56,6

    Singapore

    7.342

    1.704

    7.086

    134,8

    2,4

    -3,5

    Tây Ban Nha

    14.225

    803

    5.842

    26,9

    -80,7

    -58,9

    Thái Lan

    32.997

    7.615

    33.757

    22,9

    38,2

    2,3

    Trung Quốc

    77.103

    13.706

    63.972

    14,9

    -40,6

    -17,0

    Ngoài ra nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN còn bao gồm các loại: lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật.

    Thống kê sơ bộ của TCHQ về các nguyên liệu sản xuất TĂCN trong 5 tháng đầu năm 2017

    Mặt hàng

    5T/2016

    5T/2017

    So với cùng kỳ

    Lượng (1000 tấn)

    Trị giá (nghìn USD)

    Lượng (1000 tấn)

    Trị giá (nghìn USD)

    Lượng (%)

    Trị giá (%)

    Lúa mì

    1.558

    337.295

    2.148

    441.247

    37,9

    30,8

    Ngô

    3.002

    588.131

    3.145

    634.844

    4,8

    7,9

    Đậu tương

    593

    235.503

    730

    321.765

    23,2

    36,6

    Dầu mỡ động thực vật  

    252.494

     

    283.550

     

    12,3

    Nguồn: VITIC

     

    Đậu tương:

    Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 5/2017 đạt 184 nghìn tấn với giá trị 77 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 5 tháng đầu năm 2017 đạt 643 nghìn tấn và 280 triệu USD, tăng 8,4% về khối lượng và tăng 18,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

    Ngô:

    Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 5/2017 đạt 809 nghìn tấn với giá trị đạt 161 triệu, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 5 tháng đầu năm 2017 đạt 3,05 triệu tấn và 625 triệu USD, tăng 1,5% về khối lượng và tăng 6,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Achentina và Braxin là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong 4 tháng đầu năm 2017, chiếm lần lượt là 28,6% và 20,3% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Đặc biệt, trong 4 tháng đầu năm 2017, khối lượng nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan tăng hơn 48 lần so với cùng kỳ năm 2016 nhưng giá trị lại chỉ tăng có hơn 4,5 lần.

    Lúa mì:

    Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 5/2017 đạt 354 nghìn tấn với giá trị đạt 75 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này 5 tháng đầu năm 2017 đạt 2,1 triệu tấn và 430 triệu USD, tăng 34,9% về khối lượng và tăng 27,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 4 tháng đầu năm 2017 là Úc, chiếm tới 39,1%; tiếp đến là Canada chiếm 13,8%, thị trường Braxin chiếm 4,4%, thị trường Nga chiếm 3,2% và thị trường Hoa Kỳ chiếm 0,1% tổng giá trị nhập khẩu lúa mì. Các thị trường nhập khẩu lúa mì hầu hết đầu giảm cả về khối lượng và giá trị so với cùng kỳ năm 2016 ngoại trừ thị trường Canada. Thị trường này trong 4 tháng đầu năm 2017, khối lượng lúa mì tăng gần 16 lần và giá trị tăng gần 12 lần. Thị trường có giá trị nhập khẩu giảm mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Hoa Kỳ (giảm 96,8%).

    Sắn và các sản phẩm từ sắn XK:

    Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 5 năm 2017 ước đạt 246 nghìn tấn với giá trị đạt 61 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 5 tháng đầu năm 2017 ước đạt 1,7 triệu tấn và 427 triệu USD, giảm 10,3% về khối lượng và giảm 14,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Trong 4 tháng đầu năm 2016, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 87,5% thị phần, giảm 10,8% về khối lượng và giảm 14,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Trong 4 tháng đầu năm 2017, thị trường Nhật Bản có giá trị nhập khẩu sắn và các sản phẩm sắn của Việt Nam giảm mạnh (90,6%).

     

    Nguồn tin: http://channuoivietnam.com